Thực hiện Công văn số 04-CV/ĐTN ngày 08/1/2026 của Ban Thường vụ Đoàn xã về việc sưu tầm, viết và lan tỏa các câu chuyện “Thời hoa lửa”, Chi đoàn nhà trường đã tích cực triển khai, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của đoàn viên thanh niên. Thông qua việc tìm hiểu và chia sẻ những câu chuyện lịch sử ý nghĩa, hoạt động góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lý tưởng sống, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và lòng tự hào dân tộc trong mỗi đoàn viên.
ĐẠI CHIẾN SÔNG BẠCH ĐẰNG
Phần 1: Ngô Quyền trị phản tặc
Có những dòng sông chỉ mang theo nước, nhưng có những dòng sông mang theo linh hồn của cả một dân tộc và khi nước biển rút bãi cọc từ lòng nước trồi lên định mệnh của một dân tộc đã bắt đầu Bạch Đằng Giang hồn thiêng sông núi. Năm 937 hào cường đất Ái Châu Thanh hóa là Dương Đình Nghệ bị chính thuộc hạ thân tín của mình là Kiều Công Tiễn giết hại ngay tại nha phủ để đoạt chức tiết độ sứ hành động này gây phẫn nộ trong dân chúng và các tướng lĩnh cũ trong đó có con rể của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền.
Ngay sau đó Ngô Quyền tập hợp lực lượng từ Ái Châu -Thanh Hóa kéo quân ra Bắc để trị tội phản nghịch, nhưng Kiều Công Tiễn hoảng sợ bị cô lập bèn sai người sang Nam Hán cầu cứu, đây là hành động “cõng rắn rắn cắn gà”.
Nhà vua Nam Hán - Lưu Cung đang muốn thôn tính nước ta thấy đây là cơ hội trăm năm có một, hắn phong cho con trai là Lưu Hoằng Tháo làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ thống lĩnh hàng vạn thủy quân sang xâm lược nước ta với danh nghĩa là giúp Kiều Công Tiễn, nhưng hắn không biết được rằng ở An Nam xa xôi kẻ nội ứng của hắn là Kiều Công Tiễn đã bị tướng Ngô Quyền xử lý nhanh gọn.
Mùa đông năm 938 trên Thành Đại La gió bấc thổi hun hút mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông Bắc bộ, Ngô Quyền đứng trên tường thành tay nắm chặt đốc kiếm, phía dưới là đầu của tên phản nghịch Kiều Công Tiễn đã bị bêu trước cổng.
Mối thù giết cha vợ đã trả xong nhưng đôi mắt của vị chủ tướng 40 tuổi vẫn không hề giãn ra, ông nhìn về phương Bắc nơi mây đen đang vần vũ, một viên từ tướng vội vã bẩm báo “thám mã báo về thuyền của Hoằng Tháo đã vượt qua ải Ngọc Sơn đang tiến vào cửa biển Bạch Đằng, buồm che kín mặt biển, cờ xí rợp trời”. Ngô Quyền quay lại ánh mắt sắc lạnh như dao: “Hoằng Tháo là đứa trẻ ranh dựa thế cha là vua Nam Hán nên kiêu ngạo khinh địch, hắn mang hàng vạn quân sang đây cốt để làm uy chứ không hiểu gì về binh pháp nước Nam. Ta không sợ thuyền to, ta chỉ sợ lòng người không thuận nay nghịch tặc đã trừ -lòng quân đã quyết ta sẽ dạy cho hắn bài học cuối cùng.”
Ông ra lệnh giọng vang lên “Nhổ trại tiến về Bạch Đằng Giang!”
Và công cuộc gỡ bỏ xiềng xích nghìn năm Bắc thuộc chính thức bắt đầu.
Phần 2: Đóng cọc trên sông Bạc Đằng
Sau ba ngày hành quân từ Đại La, đoàn quân do Ngô Quyền dẫn đầu đã tới Bạch Đằng. Con sông hiện ra như một linh vật khổng lồ, mặt nước rộng mênh mông hút mắt đến tận chân trời. Ngô Quyền bước xuống bãi cạn ông khom lấy tay vốc một nắm bùn và nói “Đây là đất của ta và cũng sẽ là mộ của quân xâm lược. Chuyển vũ khí đến đây, đem lương thực vào kho.” Ngay sau khi ổn định được doanh trại thì lập tức ngô Quyền đi con thuyền ra sông để tự kiểm tra sự thay đổi của dòng nước rồi sau đó ông cho gọi đội trinh sát thủy triều ba ngày sau họ quay lại với sổ ghi đầy vạch nước.
Nắm bắt được chi tiết bãi cạn và thủy triều khó đoán của dòng sông Bạch Đằng nên công cuộc chuẩn bị được bắt đầu ngay. Ngô Quyền cho tập hợp thợ mộc, thợ rèn, dân binh từ khắp vùng Đông Bắc, những người thợ giỏi nhất từ vùng vùng núi Thanh Hóa, Hoa Lư. Những cây Lim lớn trong rừng được chặt xuống, tiếng rìu bổ vỏ gỗ vang xa cả dặm rừng, mỗi cây Lim được 20 người khiêng về, vừa đi vừa hò để giữ nhịp chỉ sau vài ngày hàng ngàn thân Lim đen từ rừng sâu đã được kéo ra. Mất thêm khoảng vài ngày để chuyển theo bè và thả trôi về bến sông Bạch Đằng. Ở bờ sông xưởng rèn dã chiến được dựng xát ngay cạnh bờ sông. Gỗ về tới đâu là thợ vót nhọn đầu thân gỗ và bọc đầu sắt nhọn tới đó. Đầu biệt sắt được rèn nóng đỏ mài nhọn như mũi giáo các thợ rèn làm ngày làm đêm để kịp xong hàng ngàn thân cọc. Bễ thổi bằng da trâu, lò nung bằng đá xếp. Các thanh lim thẳng thớ được bịt sắt. Tất cả tạo nên một đại công trường hừng hực khí thế chiến đấu.
Sau những ngày đi khảo sát kỹ lưỡng tướng Ngô Quyền quyết định chọn hai bãi cạn chính, bãi cạn thứ nhất gần cửa biển để mắc thuyền địch đầu tiên, bãi thứ hai sâu hơn để giữ chặt thuyền khi nước rút.
Thời điểm cắm cọc được chọn vào ban đêm vì khi đó thủy triều rút mạnh nhất và thuyền địch chưa vào, dễ giữ bí mật che mắt nội gián quân Nam Hán. Đêm đầu tiên cắm cọc là đêm gian nan nhất cọc được kéo từ bãi tập kết ra bờ sông, gió Bấc thổi hun hút, nước sông lạnh như lưỡi dao cắt vào da thịt. Hàng trăm binh sĩ và dân binh lội xuống nước vai gánh cọc tay vịn nhau để khỏi bị dòng nước cuốn trôi. Hàng trăm ngọn đuốc cháy lập lòe để soi đường ra giữa sông. Mỗi cọc dài 3 đến 4 m nặng khoảng 150 kg rồi dùng bè lớn và thuyền nhỏ để kéo bè ra bãi cắm. Cứ như vậy cho đến cuối canh ba đầu cánh tư là thủy triều trên sông rút cạn dần để lộ ra những bãi bùn rộng mênh mông. Trước khi được dựng cắm từng nhóm 3-4 dân binh gấp rút đào một hố cọc dưới bùn sâu khoảng 1,5 m, lúc này thủy triều sắp rút gần hết nên việc đào diễn ra dễ dàng hơn. Vì thời gian nước rút trong đêm chỉ khoảng hai đến bốn tiếng nên tướng Ngô Quyền khá sốt ruột, cọc tre được làm đòn bẩy rồi dùng búa gỗ lớn đóng xuống. Một đội 4 người giữ thẳng, 1 người đo độ nghiêng theo dòng nước, 1 người ghi chép vị trí. Cọc được chỉ đạo cắm nghiêng về phía dòng nước đổ ra biển, cắm dày như rừng tất cả dần hiện lên như một bàn trông khổng lồ đang hướng mũi nhọn về phía quân xâm lược và giấu hoàn toàn dưới mặt nước khi thủy triều lên.
Phần 3: Giăng bẫy sông Bạch Đằng
Một binh sĩ trẻ run giọng hỏi: “Thưa tướng quân sao phải cắm nhiều thế này?”. Tướng Ngô Quyền liền giải thích “Vì chỉ một cọc thôi chưa đủ để giết nhưng một rừng cọc thì cả vạn quân Nam Hán cũng phải chìm xuống!”. Tiếng gió hú, tiếng nước vỗ, tiếng búa đóng cọc dội vào đêm tất cả đang gấp rút trước khi thủy triều dâng canh tư canh năm.
Sau khoảng một tuần quân ta dựng cọc thì lúc này những chiếc thuyền Nam Hán đã tiến tới rìa vịnh Bắc Bộ, hàng trăm chiếc buồm kín mặt biển cò xí rợp trời. Tướng giặc Lưu Hoằng Tháo trẻ tuổi, kiêu hãnh chỉ tay về phương Nam “Đất Giao Châu nhỏ bé ta chỉ tới Bạch Đằng chúng sẽ quỳ xuống!”
Một viên tướng già can ngăn nước ở đó hiềm trở nên cẩn trọng Hoằng Tháo gạt phắt ta đem 10 vạn quân sợ gì một dòng sông. Hạm đội Nam Hán tiến vào cửa biển như một đàn thú dữ không ai kiềm nổi nhưng cũng không biết rằng trước mặt chúng là cái bẫy được dàn dựng bằng trí tuệ và sức lực của cả một dân tộc.
Dọc rừng ven sông quân Đại Việt dựng lũy tre, ụ đất dấu quân dưới tán rừng. Ngô Quyền bố trí từng lớp, từng lớp, lớp thứ nhất thuyền nhỏ, nhẹ nhàng để nhử địch. Lớp thứ hai thuyền chiến lớn mai phục sau đồi đất, lớp thứ ba bộ binh cung nỏ dọc hai bờ sẵn sàng đổ tên như mưa, lớp thứ tư lực lượng hỏa công thuyền giầu buộc sẵn dây thừng chờ lệnh. Các tướng nhìn bản đồ chải trước mặt chỉ thấy một mặt trận dày đặc khó tin Đỗ Cảnh Thạc nói nhỏ “Ngài muốn kết liễu bọn chúng chỉ trong một lần đánh”. Ngô Quyền đáp bình thản “không chỉ một lần đánh mà là một lần đánh để viết lại lịch sử!”.
Phần 4: Chạm mặt quân Nam Hán
Sau hơn nửa tháng quân ta đóng cọc và giăng trận địa thì lúc này những cánh buồm của Nam Hán đã thấp thoáng tiến tới vùng biển cửa sông Đông Bắc gần đảo Cát Bà. Người ngư dân đầu tiên phát hiện ra chính là lão Kình lão bỏ cả lưới chạy vội vào bãi hét lên khản cổ “Thuyền lạ, thuyền giặc. nhiều lắm!” Đám trai tráng ven biển tức tốc trèo lên những mỏm đá cao và rồi họ thấy một vệt đen dài cắt ngang mặt biển, không phải giông mà là một rừng cột buồm. Lão Kình nghiến răng “Đi báo với tướng quân!” Đội ngư dân tức tốc dùng thuyền lan trèo như điên trên song, giữa đường thì gặp được quân trinh sát của ta, thông tin lập tức được chuyển về doanh trại. Người lính trinh sát chạy đứt hơi vào trại “Tướng quân giặc đã đến cửa biển!” Ngô Quyền quay lại ánh mắt như mũi tên “Bao nhiêu?” binh sĩ thở dốc “Nhiều lắm, nhiều đến mức đen cả chân trời. Chúng đang vào nhanh lắm theo gió đông bắc.”
Đỗ Cảnh Thạc bước đến “Thưa đại tướng, bọn chúng đã đến sớm hơn một ngày so với dự kiến.” Ngô Quyền đáp giọng bình thản như thể đã biết trước, rồi ông ra lệnh “Tập hợp toàn quân, các đội mai phục sẵn sàng vào vị trí, thuyền nhỏ chuẩn bị nhủ giặc!”.
Tiếng tù và dài và trầm vang lên, lan qua mặt nước như tiếng gọi của thần linh cả doanh trại chuyển động như một cỗ máy khổng lồ. Mỗi người đều có phần việc của mình, các đội cung nỏ lấy dây tẩm dầu bò để tăng độ đàn hồi, bộ binh thì bôi mỡ lên giá tre để mũi tên địch trượt đi dễ hơn, có người viết vài chữ cuối cùng lên mảnh tre gửi vợ con dù biết có thể không bao giờ có dịp gửi.
Bên khúc sông đội thuyền nhỏ nhanh nhẹn khoảng 30 chiếc tập trung chờ lệnh họ sẽ là những người đầu tiên đụng mặt gặc. Chỉ huy dặn dò “Anh em chỉ cần giữ đúng thời điểm rút, đừng để chúng bắt không cần đánh chỉ cần nhử!”
Lần chạm trán đầu tiên đội thuyền nhử của Đại Việt xuất hiện từ sau một đuôi đất, thuyền nhỏ nhẹ lướt qua mặt sông như cá bơi Hoằng Tháo bật cười lớn “Quân man di đấy à, trốn nhanh nhỉ.” Hắn ra lệnh “Đuổi theo bắt sống cho ta xem mặt chúng”.
Phần 5: Nhử địch vào sông
Bị thuyền nhỏ của ta vờn trên sóng tướng giặc Lưu Hoằng Tháo mắc bẫy tâm lý và cảm thấy kích thích tưởng phen này có thể dễ dàng bóp nghẹt quân An Nam ít ỏi kia. Hắn ra lệnh “Đuổi theo bắt sống bọn man di này cho ta xem mặt chúng”.
Thuyền lớn Nam Hán tăng tốc căng buồm căng gió tiến nhanh và lòng sông, nhưng đội thuyền nhỏ của ta không rút thẳng, chiến thuật bỏ chạy đột ngột đã được thay đổi theo đúng kế hoạch. Họ lượn vòng tỏa ra như muốn gây thêm hưng phấn cho Nam Hán tiến vào nhanh hơn, rồi đột nhiên một phát ném hai mũi phi lao rồi rút nhanh như bóng. Một thuyền Nam Hán chúng phải phi lao, một lính trúng mũi tên điều đó đủ khiến Hoằng Tháo nổi giận “Đuổi, đuổi hết cho ta!” Đội khổng lồ bắt đầu tiến sâu vào bãi cọc mà không hề biết chúng vừa bước vào trận được dựng lên bằng trí tuệ vĩ đại của người An Nam nhỏ bé.
Lúc này là thời điểm cuối canh thìn khoảng 10giờ trưa, trên bờ tướng Ngô Quyền đứng trên trạm quan sát, ông bình tĩnh dõi theo từng con thuyền, tay nắm chặt chuôi kiếm, gió đông bắc thổi mạnh tạt áo choàng ông ra phía sau. Đỗ Cảnh Thạc khẽ hỏi “Tướng quân có ra lệnh ngay không?” Ngô Quyền ngước nhìn mặt trời đang lên cao ông thấy từng chiếc thuyền Nam hán lọt vào giữa hai mỏm cát nơi bãi cọc nằm sâu dưới nước chiều ông nói chắc như đá “Chưa, phải để chúng vào sâu hơn nữa khi nước rút ta mới đánh, đến lúc ấy sông sẽ chiến đấu cùng ta!” Ông chỉ cần một chút nữa thôi thủy triều sẽ đổi, nước sẽ rút và toàn bộ đội quân Nam Hán sẽ bị giam trong bẫy. Đến lúc này mặt trời đã đứng bóng một trinh sát vội vã cấp báo “Thưa tứớng quân thủy triều đã bắt đầu đổi hướng.” Ngô Quyền siết lấy chuôi kiếm ánh mặt sáng bừng lên như tia sét “Đã đến lúc, đến lúc rồi!” Dòng sông bắt đầu chuyển mình như một con mãnh thú ngủ say bỗng tỉnh dậy, nước bắt đầu rút không ào ạt nhưng vô cùng mạnh mẽ.
Phần 6: Biển lửa trên sông Bạch Đằng
Nước bắt đầu rút, dòng sông chuyển mình như một con mãnh thú vừa tỉnh dậy lúc này là vào đầu canh Ngọ thời điểm then chốt của cuộc chiến đã chính thức bắt đầu. Những dải sóng lăn tăn chảy dọc mặt sông, các xoáy nước sâu bắt đầu mở ra thành những vòng tròn đen kịt. Một lính Nam Hán trên thuyền lớn thốt lên đầu tiên “Nước đang xuống” Hoàng Tháo nhíu mày không tin vào tai mình “Nước xuống nhanh vậy sao?” nhưng dòng chảy đã trở lời thay.
Những thuyền chiến lớn vốn nặng nề và cần nước sâu để di chuyển bắt đầu chậm lại, một vài chiếc thuyền ở phía trước nghiêng nhẹ rồi đáy thuyền chạm phải thứ gì đó. Một tiếng gỗ nứt gãy vang lên rồi tiếng thứ hai, tiếng thứ ba. Từ trạm quan sát Ngô Quyền nghe rất rõ những âm thanh đó, âm thanh của cọc lim xé đáy thuyền. Đỗ Cảnh Thạc siết chặt tay “Chúng đã mắc bẫy rồi!” lúc này chiếc thuyền đi đầu của Nam Hán đột ngột khựng lại những binh sĩ trên boong chúi về phía trước, tướng giặc hét lên “Rút mái chèo quay mũi mau.” nhưng đã muộn, một mũi cọc lim trồi lên khỏi mặt nước trông như một mũi kiếm sắt đâm từ lòng sông lên xuyên thẳng vào mạn thuyền. Nước ập vào qua lỗ thủng tạo thành âm thanh ùng ục đáng sợ. Phía sau các thuyền khác không kịp xoay sở liên tục tông tới và tạo thành một chuỗi va chạm hỗn loạn. Trên thuyền lớn của mình Lưu Hoằng Tháo gầm lên “Trời ơi! Cả rừng cọc. Quay thuyền, quay thuyền mau.” Nhưng quân lính của hắn không thể xoay chuyển thứ gì.
Nước rút quá nhanh dòng chảy đẩy ngược tất cả vào giữa bãi cọc. Những chiếc thuyền vốn là niềm tự hào của Nam Hán giờ như những con trâu bị bắn trúng chân đổ nhào liên tiếp. Ở phía xa từ sau đồi đất đội thuyền nhỏ của Đại Việt xoay mũi nhìn thấy cảnh tượng hỗn loạn ấy ai nấy đều nín thở.
Giờ phút tấn công bắt đầu. Trên bờ Ngô Quyền rút kiếm khỏi vỏ ông nâng kiếm lên cao và hô lớn giọng vang dội như tiếng sấm rền “Tổng công kích!” Tiếng tù và Đại Việt thổi lên dài, trầm, mạnh mẽ.
Những cánh rừng ven sông như bừng tỉnh, từ hai bên bờ, từ những ụ đất, từ rừng đước, rừng vẹt, từ những ngạch nước nhỏ hàng ngàn quân Đại Việt đồng loạt sông ra tiếng hô “Giết!” dội lên long trời. Các thuyền chiến ẩn nấp sau đồi đất đột ngột phóng ra, mái treo đồng loạt quét nước tạo từng vết dài mạnh bạo, nó mạnh bắn đi những loạt tên đầu tiên như mưa rơi xuống đám quân Nam Hán đang loạn. Quân Nam Hán kêu la, một viên tướng chỉ huy hét lớn “Đánh vào thuyền đang mắt cọc trước không cho trúng giải cứu nhau!” những mũi tên tắm dầu lao đi cắm vào buồm thuyền Nam Hán, lửa bùng lên dữ dội. Ở giữa trận địa tướng giặc Hoằng Tháo cố đứng vững trên chiếc thuyền chao đảo của mình, hắn nhìn quanh đâu đâu cũng là lửa, là tiếng hét là, xác thuyền chìm hắn hét “Triệt lui, triệt lui ngay. Tất cả quay ngược ra biển!” Nhưng không một chiếc thuyền nào quay được, tất cả đều bị cọc Lim giam chặt những con thú mắc trong chuồng.
Phần 7: Đại chiến sông Bạch Đằng
Đến lúc này dòng nước lại càng rút tiếp, những mũi cọc dài trồi lên như cả một rừng gươm mọc từ lòng sông, binh sĩ Nam Hán tuyệt vọng. Một cọc đâm xuyên qua đáy thuyền của chúng, nước tuôn vào kéo theo tiếng la thất thanh “Cứu với!” nhưng nước Bạch Đằng không cứu kẻ xâm lăng.
Đại Việt đổ bộ, các chiến thuyền nhỏ của Đại Việt áp sát những thuyền lớn bị mắc cạn, những chiến binh Đại Việt nhảy sang thuyền địch như những con báo vọt, còn đội quân Nam Hán kéo sang đây với tâm thế của kẻ xâm lược thì giờ đây lại như những kẻ cùng đường và yếu đuối. Các binh sĩ Đại Việt lao lên tay cầm mác dài, rìu ngắn chém tới tấp vào quân Nam Hán đang tuyệt vọng chống đỡ. Tiếng thép pha vào thép, tiếng gỗ vỡ, tiếng người gào thét xen vào nhau tạo thành một thứ âm thanh rợn ngọt phủ kín cả mặt sông.
Giờ là lúc săn lùng tướng giặc, trên thuyền lớn của Hoằng Tháo binh sĩ đã ngã la liệt, hắn cố rút kiếm chống trả từng nhát mặt đỏ bừng vì sợ hãi và phẫn nộ, một đội quân Đại Việt lao tới người chỉ huy hét lên “Giết Hoằng Tháo, giết đầu rắn!” Hoằng Tháo lùi về phía cột buồm mắt trừng trừng hắn biết trận này hắn đã thua từ trước khi đặt chân vào sân, hắn vung kiếm trong tuyệt vọng nhưng một mũi giáo Đại Việt đã xuyên qua cắm vào ngực Hoằng Tháo nghẹn lại mắt mở lớn và hấp hối như muốn xin một ân huệ. Nhưng tất cả đã quá muộn hắn nhìn thấy bầu trời trắng xóa phía trên và dưới chân hắn dòng nước màu máu chảy xiết, hắn ngã xuống rơi khỏi mạn thuyền, nước cuốn hắn đi như cuốn một chiếc lá, đó là khoảnh khắc toàn bộ quần Nam Hán tan vỡ.
Đến cuối canh Mùi thức khoảng 04.00 chiều nước triều đã rút cạn, dòng sông dữ dội ban sáng giờ lộ ra bộ mặt trần trụi tàn khốc của chiến trường. Mùi gỗ cháy mùi, máu tanh bị khuấy lên hòa quyện vào nhau nặng đến nghẹt thở.
Quân Đại Việt bắt đầu tản đi khắp bãi sông lặng lẽ kiểm tra từng con thuyền địch. Có kẻ còn sống sót, bị thương nặng được kéo lên bờ không ai reo hò không ai cười lớn. Ở một khúc sông khác thi thể của vị chủ soái Nam Hán được vớt lên, áo giáp nặng trĩu nước, gương mặt vẫn còn nét kinh hoàng chưa kịp khép lại. Trên bờ đê cao tướng Ngô Quyền đứng lặng nhìn xuống chiến trường, một viên tướng trẻ tiến đến phía sau quỳ một gối: “Quân địch tan rã hoàn toàn!” Đêm ấy quân sĩ Đại Việt ăn bữa cơm muộn đơn sơ như mọi ngày, cơm nắm cá khô, nước sông đun sôi nhưng chưa bao giờ bữa ăn lại yên tĩnh đến thế, ai cũng hiểu rằng mình vừa đi qua một lần danh mà cha ông chưa từng bước tới. Sáng sớm hôm sau tướng Ngô Quyền cho người tháo bỏ một phần bãi cọc trên sông Bạch Đằng không phải để xóa dấu vết mà để dòng sông được chảy lại như cũ. Ông nói “Để nó nhớ và nó tiếp tục sống!” những cọc gỗ còn lại được giữ nguyên như một hàng bia mộ không tên giữa lòng sông cho đến ngày nay.
Ngô Quyền- người anh hùng dân tộc, người đã chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc mở ra kỉ nguyên độc lập cho dân tộc. Chiến thắng Bạch Đằng không chỉ cứu một thời đại mà trao lại cho con cháu muôn lời quyền được làm chủ non sông mình, công lao ấy hy sinh ấy máu xương ấy dân tộc này ngàn đời xin khắc ghi./.